Marketing trong ngành điện ảnh

Marketing trong ngành điện ảnh bắt đầu manh nha phát triển tại Việt Nam trong thời kì bùng nổ của phim thị trường Việt Nam sau thời kì lạm phát về phim chiến tranh. Có cầu thì mới có cung, nhất là khi những bộ phim thương mại từ Hàn Quốc du nhập vào vào Việt Nam như lốc xoáy với dàn diễn viên trẻ đẹp, khung cảnh lãng mạn cùng với nội dung nhẹ nhàng gần thực tế đã tạo cho người dân những giờ phút thư giãn thoải mái sau khi làm việc.



Nắm bắt được nhu cầu giải trí mới của người dân, vào năm 2002, Thủ Tướng Chính Phủ mới cho phép tư nhân được sản xuất và phổ biến phim. Tức thì hàng loạt các hãng phim tư nhân chào đời, và cũng hàng loạt phim thị trường ra lò, gây tiếng vang nhất định đối với người dân: đầu tiên là phim Gái nhảy ( hãng phim Giải phóng ), “Lọ lem hè phố”, hãng phim Thiên Ngân với “ Những cô gái chân dài”( đoạt giải Bông Sen bạc tại liên hoan phim Việt Nam lần 14), hãng phim Phước Sang với “Khi đàn ông có bầu”, gần đây lại có “Hai trong một”, “Đẻ mướn”, “hồn Trương Ba da hàng thịt”.

Để kéo được khán giả đến rạp, để có doanh thu hàng tỉ đồng, các nhà đầu tư đã không ngại bỏ tiền sử dụng các công cụ Marketing trong ngành điện ảnh: lăng xê bộ phim thị trường của mình và kĩ thuật quảng bá có thể nói ngày càng bài bản với những hoạch định hết sức vững vàng, làm cho phim thị trường ngày càng có sức sống và thêm nhiều gương mặt mới.
Một trong những yếu tố giúp phim thị trường thu hút sự chú ý từ khán giả là khai thác những vấn đề đúng với yêu cầu thời sự, đánh vào trí tò mò của dư luận, đề tài nóng bỏng hay gần gũi đời sống, chẳng hạn khai thác những mặt trái của thế giới người mẫu ở “Những cô gái chân dài”, khai thác những chi tiết của những “cave” ăn đêm trong “Gái nhảy”, thế giới những người đồng tính với “2 trong 1”, “Lọ Lem hè phố”… Bên cạnh đó là sử dụng hình ảnh những diễn viên, người mẫu, thậm chí những ca sĩ trẻ đẹp để đóng phim (thậm chí khai thác việc ảnh khỏa thân của các người mẫu diễn viên bị tung lên mạng như trong “Chờ chuông reo rồi bắn”, “Đẻ mướn”…).
Trong dòng phim thị trường, mỗi bộ phim thực sự được xem như một sản phẩm thương mại với yêu cầu nỗ lực thu hút người mua. Xem ra người ta đã có hẳn một chiến lược marketing tổng lực và bài bản cho mỗi bộ phim, mà đứng sau là cả một công ty quảng cáo chuyên nghiệp. Trước ngày công chiếu vài tháng người ta đã thấy poster, banner treo đầy đường, phim này thì quảng cáo ầm ĩ trên báo, phim kia thì phát tờ rơi rầm rộ.
Báo chí là một công cụ rất hữu hiệu để lôi cuốn sự chú ý của người xem. Chính vì thế những người làm phim tỏ ra biết cách tận dụng báo chí làm công cụ PR miễn phí. Cách ngày bấm máy cả tháng trời, đạo diễn và ekip làm phim đã tung ra ngoài những thông tin về bộ phim và luôn luôn theo kiểu nhỏ giọt, úp úp mở mở. Không chỉ có vậy, họ còn tổ chức các cuộc thi kiểu bắt giò điện ảnh (phim”cộng nghệ lăng xê”), thi thiết kế poster( phim“ Những cô gái chân dài”), thi
làm trợ lý đạo diễn (1735km)… được thực hiện khá bài bản. Thỉnh thoảng người đại diện cố tình để lộ ra một chút bí mật về tác phẩm, kiểu thông tin một chiều khiến trí tò mò của khán giả càng thêm có dịp “động đậy”. Đại diện cho kiểu lăng xê thành công là phim nhựa “ Những cô gái chân dài”, cho đến ngày công chiếu nội dung về các cô gái đóng phim
vẫn được giữ kín như bưng, chỉ có một câu duy nhất: “Tôi không có ý định xới tung thế giới người mẫu”!
Hầu như phim nào cũng có một trang web riêng để dân tình có thể truy cập và theo dõi từng đường đi nước bước của bộ phim. Thế nhưng, gây tò mò nhất vẫn là tựa phim thị trường. Những cái tên phim, đa số, gây nhiều tranh cãi như “Đẻ mướn”, “Hồn trương Ba da hàng thịt”, ”Gái nhảy”, và một số phim như”1735km”, “Những cô gái chân dài”, “Nữ tướng cướp”… tất cả đều có điểm chung là muốn gây ấn tượng trước để người dân tha hồ tưởng tượng, rồi tò mò kéo nhau đi xem. Tuy nhiên cho dù có marketing cách mấy nhưng nội dung không thu hút thì khán giả vẫn tẩy chay, điển
hình là “1735km” (của hãng Kỳ Đồng) cũng marketing khá bài bản nhưng lại bị thua lỗ nặng. Một điều có thể thấy rõ là hay có những quảng cáo của các nhà tài trợ được đạo diễn lồng ghép một cách gượng ép vào thể loại phim này. Xin kể ra vài ví dụ tham khảo: Mỹ Duyên trong “Giá nhảy “ đã kêu lên “Samsung” một cách vô nghĩa, Quang Dũng thì rất sành điệu với xe Suzuki Viva, còn trong “Nữ tướng cướp” hai cô du thủ du thực xinh đẹp đã chặt đứt đôi chai nước Aquafina. Có nhận định cho rằng “phim nghệ thuật hay phim thị trường thì đều là phim và với mục đích là kéo
khán giả đến rạp” và những công nghệ marketing như trên đã đóng vai trò rất lớn trong việc kéo khán giả đến rạp. Nếu vậy thì, bên cạnh việc cải thiện nội dung, chất lượng phim, tại sao không vì một điện ảnh Việt Nam mạnh mẽ mà phát huy tiếp? Đến đây đành chờ xem công nghệ marketing liệu có giúp điện ảnh Việt Nam đạt thành tựu nào có tính chất bứt phá hơn nữa không.

Nguồn: Margroup

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Kiến Thức, Kiến Thức Marketing và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s